Số lượng truy cập

Đang truy cập: 24

Truy cập trong ngày: 271

Tổng số lượt truy cập: 3687530

Liên kết website

Hình ảnh quảng cáo

CHI TIẾT THÔNG TIN

Lịch sử về Dịch thuật (05-07-2011)

 Có thể kết luận rằng, nhìn về tổng thể, dịch thuật ở châu Âu phát triển rất mạnh. Đặc biệt là sau sự mở rộng của tầng lớp độc giả bao gồm các nhóm xã hội mới như phụ nữ và thợ thủ công, và cũng từ đó là việc giảm từ từ sự phụ thuộc vào tiếng La Tinh như một ngôn ngữ chính.  

1. Vai trò của dịch thuật

Lịch sử dịch thuật

Dịch thuật là chiếc cầu nối giúp cho những người không cùng ngôn ngữ có thể hiểu được điều mà người khác muốn diễn đạt. Nói cách khác, dịch thuật là đem thông tin được diễn đạt bằng ngôn ngữ này (gọi là ngôn ngữ nguồn) diễn đạt lại bằng ngôn ngữ khác (gọi là ngôn ngữ đích). Tuy nhiên, chuyển tải ý nghĩa giữa các ngôn ngữ chỉ là bề nổi của tảng băng trôi. Trên thực tế, dịch thuật còn đi xa hơn những gì mà chúng ta thấy trên bề mặt nổi.

Dịch thuật từ xưa đến nay luôn đóng vai trò quan trọng và thiết yếu trong lịch sử dân tộc, bất kể phương đông hay phương tây. Không đơn thuần chỉ là chuyển tải từ ngôn ngữ gốc sang một hay nhiều ngôn ngữ khác, mà song song với việc chuyển dịch ngôn ngữ, dịch thuật còn chuyển tải cả một nền văn hóa. Thế nhưng qua từng giai đoạn lịch sử của một nền văn hoá thì vai trò của phiên dịch lại không giống nhau. Ta hãy cùng lược qua lịch sử của dịch thuật tương ứng với từng giai đoạn lịch sử ở cả hai nền văn hoá phương Tây và phương Đông mà tiêu biểu là các nước sử dụng hệ thống chữ cái La Tinh.  

 

2. Lịch sử nền dịch thuật Châu Âu

Vào đầu thời kỳ hiện đại của các nước châu Âu, sau khi ngành in ấn được phát minh thì việc xuất bản sách và dịch thuật đã bắt đầu nở rộ. Dịch thuật chia làm hai trường phái, diễn dịch và chuyển ngữ. Trường phái diễn dịch đem văn bản nguồn diễn giải ra một cách đơn giản nhất sao cho số đông dân chúng có thể hiểu được mà không cần thuộc tầng lớp trí thức. Trường phái thứ hai la chuyển ngữ. Dịch văn bản gốc thành nhiều thứ tiếng khác nhau để thuận tiện cho việc truyền tải kiến thức và giao lưu văn hóa, thường là những tác phẩm về tôn giáo hoặc khoa học.

Biên bản dịch thuật đồ sộ nhất là Kinh Thánh. Giữa thời kỳ in ấn được phát minh vào cuối thế kỷ thứ XVIII, Kinh Thánh đã được dịch ra năm mươi mốt ngôn ngữ khác nhau. Sau Kinh Thánh, cuốn sách “Imitatio Christi” đã vượt lên với số lượng ngôn ngữ dịch ra là 52 ngôn ngữ và cùng thời kỳ đó dịch ra thêm 12 ngôn ngữ khác bao gồm tiếng Breton, Catalan, Cộng Hòa Séc, tiếng Hungary, Ba Lan, và Thụy Điển. Đến các tác phẩm cổ điển. Khoảng 1000 bản dịch các tác phẩm cổ điển từ tiếng Hy Lạp và La tinh được xuất bản chỉ trong năm 1600.

Một cách khác để phân biệt các dịch giả là ở tính chất chuyên nghiệp và không chuyên của họ. Những người này hoạt động công tác dịch thuật hoặc là vì yêu nghề hoặc là vì kinh tế (không kể trường hợp vì cả hai mục đích trên). Trong thời kỳ đó có hàng ngàn các nhà hoạt động trong lĩnh vực dịch thuật. Phần lớn đều là các dịch giả không chuyên, tham gia vào hoạt động dịch thuật chỉ một hai lần trong đời. Một vài dịch giả xuất thân từ tầng lớp quý tộc hoặc là các nhà cầm quyền, như vua James VI và I của Anh, và vua Philip IV của Tây Ban Nha. Các giáo sỹ dịch các sách của giáo sỹ, các nhà vật lý học dịch các sách về thuốc, luật sư dịch sách về luật pháp, họa sỹ và những người am hiểu về nghệ thuật thì dịch các sách về nghệ thuật và kiến trúc.

Các dịch giả thường tự xem mình như những nhà đồng sáng tác. Vào thời kỳ này, biểu hiện thường thấy là tóm tắt lại văn bản gốc hoặc là mở rộng, để “phát triển” văn bản gốc, và thường thực hiện một số thay đổi văn bản gốc mà không báo trước.

Có thể kết luận rằng, nhìn về tổng thể, dịch thuật ở châu Âu phát triển rất mạnh. Đặc biệt là sau sự mở rộng của tầng lớp độc giả bao gồm các nhóm xã hội mới như phụ nữ và thợ thủ công, và cũng từ đó là việc giảm từ từ sự phụ thuộc vào tiếng La Tinh như một ngôn ngữ chính.  

 

3. Lịch sử nền dịch thuật ở Việt Nam

Khi viết về lịch sử dịch thuật của Việt Nam, thật là một thiếu sót nếu như không lược qua lịch sử chữ viết. Bởi lẽ dịch thuật xuất phát từ nhu cầu truyền bá tư tưởng văn hoá vào tầng lớp nhân dân đại chúng. Xét tổng thể, hệ thống chữ viết của Việt Nam trải qua ba giai đoạn: chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc Ngữ.

Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm và thực sự trở thành phương tiện ghi chép và truyền thông trong người Việt kể từ những thế kỷ đầu Công nguyên trở đi. Đến thế ký VII - XI chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam. Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc. Chữ Hán có ảnh hưởng to lớn đối với nền văn hóa của nước Việt Nam xưa. Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc.

Dù cho chữ Hán có mạnh mẽ đến đâu cũng không thể đáp ứng được nhu cầu diễn đạt bằng lời của người Việt. Trong trường hợp đó, chữ Nôm ra đời. Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng Việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn "đồng hóa chữ Hán", tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ chim muông, đồ vật... xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán. Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau Công nguyên (đặc biệt rõ nét nhất vào thế kỷ thứ VI).
Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt. Từ thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh. Lịch sử dịch thuật đến nay còn ghi nhớ công lao của Hàn Thuyên (thế kỷ XIII), người đầu tiên dùng chữ Nôm để sáng tác và là người đầu tiên dùng chữ Nôm chép gia phả họ Nguyễn và quốc sử. Đặc biệt ghi nhớ công lao của Hồ Quý Ly (1336-1407) người dùng chữ Nôm để dịch Kinh Thi và Thiên vô dật trong Kinh thư Trung Quốc cho người Việt đọc, cùng với việc phổ biến chữ Nôm như quốc tự. Rồi các nhà nho văn nhân ở các thế kỷ sau dịch sách từ chữ Hán sang chữ Nôm như Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Phan Huy Vịnh.

Nhưng không dừng lại ở đó, nền chữ viết Việt Nam còn tiến xa thêm một bước nữa đển hoàn chỉnh vai trò của mình trong việc truyền tải, diễn đạt ý tưởng và suy nghĩ một cách dễ hiểu nhất. Trên cơ sở truyền bá đạo Thiên Chúa vào Việt Nam gặp khó khăn về mặt ngôn ngữ, giám mục Alexandre De Rhodes nghĩ ra dùng chữ cái la tinh để phiên âm tiếng Việt. Tuy nhiên, việc chế tác chữ Quốc Ngữ không phải là công việc của riêng giám mục Alexandre De Rhodes. Đó là một công việc tập thể của nhiều linh mục dòng Tên người châu Âu, trong đó nổi bật lên vai trò của Francesco de Pina, Gaspar d'Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre De Rhodes. Trong công việc này có sự hợp tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam (giúp việc cho các linh mục người Âu). Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc Ngữ. 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Pigneau de Behaine thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống chữ Việt mà chúng ta đang dùng hiện nay.

Việc tiếp nhận văn học ở đây được diễn ra một cách tự nhiên nhất, và phản ảnh được một thú chơi tinh thần tao nhã của văn nhân xưa, trong việc di dưỡng tính tình, thông qua việc chuyển ngữ những tác phẩm văn học của Trung Hoa sang ngôn ngữ Tiếng Việt.

Trong quá khứ, Việt Nam là một nước sử dụng chữ Hán. Chế độ khoa cử chữ Hán xưa đã đào tạo một đội ngũ các nhà trí thức (kể cả không đỗ đạt; ra làm quan hay chỉ dạy học) thạo về văn chương, trong đó có thơ phú. Văn xuôi và thơ chữ Hán đều không cần phải dịch, bởi công chúng là trí thức đều đọc được mà không có rào cản về ngôn ngữ. Việc dịch văn học không phải là xuất phát từ nhu cầu giới thiệu, truyền bá tác phẩm nước ngoài vào Việt Nam. Dịch thơ Đường cũng vậy. Các nhà Nho dịch thơ Đường để mình hoặc bạn bè thưởng thức trong lúc “trà dư tửu hậu”. Do vậy tiêu chuẩn “tín - đạt - nhã” cũng không đặt ra như một bắt buộc.

Các hình thức dịch Nôm như diễn âm, giải âm, diễn ca, diễn nghĩa các tác phẩm chữ Hán cũng chỉ nhằm chủ yếu cho 2 đối tượng là người còn đang đi học (học các tác phẩm kinh điển qua bản diễn Nôm) và tầng lớp bình dân (diễn Nôm các tích truyện, hoặc kinh Phật, diễn ca các bài thuốc). Các hình thức này cũng không nhất thiết phải tuân thủ tiêu chuẩn “tín - đạt - nhã”; tùy theo từng loại văn bản mà việc chuyển nghĩa có sự linh hoạt không giống nhau.

Ngoài đặc điểm chung của dịch thuật, vai trò của phiên dịch trong giai đoạn này lại mang một đặc thù hoàn toàn khác biệt với dịch thuật ở các giai đoạn khác. Đó là sự chuyển đổi dần vai trò chủ đạo của văn tự từ hệ chữ viết khối vuông (Hán – Nôm) sang hệ chữ Quốc Ngữ. Bên cạnh một số thuận lợi, sự chuyển đổi này đã dẫn đến nguy cơ gây ra sự đứt gãy với văn hoá truyền thống. Gắn với quá trình vận động nội tại của nền văn hoá dân tộc trước yêu cầu hiện đại hóa, chữ Quốc ngữ, do vậy, không chỉ là phương tiện để chuyển tải những yếu tố văn hoá ngoại sinh – yêu cầu tất yếu đối với quá trình hiện đại hóa văn hoá – mà còn, nếu không nói là trước hết, phải là nhịp cầu nối với văn hoá truyền thống, góp phần khơi dậy những yếu tố nội sinh làm nền tảng cho quá trình hiện đại hóa. Cả hai yêu cầu này đều phải qua con đường phiên dịch và tất nhiên đều phải xuất phát trước hết từ nỗ lực và ý thức văn hoá của trí thức dân tộc, qua đó chữ Quốc ngữ mới thành công cụ hữu hiệu, thành “lợi khí” trên đường hiện đại hóa văn hoá dân tộc.

Nếu như cuối thế kỷ XIX, công việc dịch thuật hoặc cải biên kia còn gắn chủ yếu với mục đích phổ biến chữ quốc ngữ thì qua đầu thế kỷ XX đã gắn với mục đích đáp ứng nhu cầu đọc và thị hiếu thẩm mỹ của công chúng. Chính nhu cầu, thị hiếu này là động lực của việc dịch thuật, cải biên văn học Trung Quốc đầu thế kỷ XX và khởi phát nên phong trào dịch thuật truyện Tàu chỉ trong vòng bốn, năm năm (1906 - 1910) đã có ngót trên 30 bộ được dịch, trong đó có những bộ có giá trị cổ điển nhưTam quốc chí (1901, 1907), Đông Chu liệt quốc (1906), Thủy hử (1907)...

Đã có nhiều ý kiến về dịch thuật truyện Tàu trong buổi đầu nền văn chương quốc ngữ. Theo chúng tôi, cần chú ý nhiều hơn đến thực tiễn văn học bấy giờ, nhất là đến nhu cầu thưởng thức của công chúng. Không phải ngẫu nhiên Canavaggio, người dịch Tam quốc chí trong Nam từ 1901 và Phan Kế Bính, người dịch Tam quốc chí ngoài Bắc từ 1907, lại gặp nhau ở điểm đều xuất phát từ nhu cầu đọc của công chúng (tác phẩm văn học truyền thống không nhiều trong khi lượng người đọc ngày càng cao) và đều chọn dịch Tam quốc chí diễn nghĩa. Ý kiến của Phan Kế Bính có nhắc đến vai trò của chữ quốc ngữ rất đáng lưu ý: “Đáng tiếc là chữ dễ đọc, người người đều hiểu, nhưng biết tìm sách đâu mà đọc? Đọc hết Cung oán ngâm khúc lại đọc Truyện Kiều, tất cả cộng lại cũng không quá mấy chục loại, người đọc nhanh chỉ ba ngày là hết sạch... Vì những nguyên nhân trên chúng tôi mới quyết định xuất bản những tập sách này” (tựa Tam quốc chí diễn nghĩa, 1907).

Bên cạnh tính thương mại, mà thực ra cũng là một biểu hiện của sinh hoạt văn học hiện đại, dịch thuật, cải biên văn học Trung Quốc nói chung, cao trào dịch thuật truyện Tàu hồi đầu thế kỷ XX nói riêng, còn phản ánh một thực tế là trong buổi đầu của nền văn học mới, dịch thuật thường đi trước sáng tác và dịch thuật thường xuất phát từ những vùng văn học gần gũi với mình, cả với dịch giả lẫn công chúng. Do mối quan hệ đặc biệt của quan hệ văn học Việt - Trung có từ lâu đời, nhiều giá trị văn học Trung Quốc đến với tiến trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam như bước ra từ truyền thống. Dịch thuật văn học cổ điển Trung Quốc có ý nghĩa rất lớn đối với nền văn học dịch và cả đối với khoa nghiên cứu văn học trong buổi chập chững của mình mà Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính, đăng trong chuyên mục Đông Dương tạp chí (từ số 167 - 180), sau in thành sách, đáng kể là tác phẩm tiêu biểu. Riêng về thơ, qua khảo sát, chúng tôi nhận ra điều khá thú vị : văn học quốc ngữ, trong đó chủ yếu là mảng dịch thuật, phát triển khá sớm ở trong Nam nhưng suốt mấy chục năm đầu thế kỷ XX, thơ cổ Trung Quốc hầu như không được để tâm đến, kể cả thơ Đường. Bài thơ Đường được dịch ra chữ Quốc ngữ sớm nhất có lẽ là bài Văn lân gia lý tranh của Từ An Trinh, Trương Minh Ký dịch thành hai bản, một theo vần bằng một theo vần trắc, nhưng là để minh họa cho phép làm thơ trong quyển Thi pháp nhập môn (1898).

Văn học quốc ngữ, trong đó chủ yếu là mảng dịch thuật, phát triển khá sớm ở trong Nam nhưng suốt mấy chục năm đầu thế kỷ XX, thơ cổ Trung Quốc hầu như không được để tâm đến, kể cả thơ Đường. Điều đáng chú ý là Việt Nam ta có truyền thống dịch thơ Đường từ khá sớm và về phương diện này thực ra cũng không có khó khăn lắm đối với văn học dịch quốc ngữ, hoặc phiên âm hoặc dịch mới ra quốc văn nhiều tác phẩm bằng chữ Nôm và dịch các tác phẩm văn học, triết học Trung Quốc cổ điển - đó là học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898). Cũng thật là một thiếu sót nếu như không đề cập đến nhà thơ trào phúng nổi tiếng Tú Xương cũng là một dịch giả có số lượng bài dịch là 81 bài, trong đó có 71 bài được dịch ra thể thơ thất ngôn bát cú, 10 bài dịch ra thể ngũ ngôn cổ phong, với một phong cách rất riêng của ông. Bút pháp trào lộng, hóm hỉnh của Tú Xương trong phong cách thơ ông xuất hiện cả trong những bài thơ dịch, tạo nên nét riêng rất đáng chú ý. Về từ ngữ, ông đã sử dụng cả những từ vốn được ông dùng trong thơ sáng tác để dùng trong bản dịch, khiến cho tác phẩm dịch của ông như một sáng tạo mới. Đó là nét đặc sắc của Tú Xương trong thơ dịch. Điều này sẽ góp phần khẳng định chân dung một dịch giả trong văn học Việt Nam. Và vị trí của ông, với tư cách là một dịch giả cần được khẳng định.

Với việc dịch thơ Đường, Tú Xương đã đóng góp vào lịch sử văn học Việt Nam như một dịch giả có phong cách độc đáo, đưa được những từ ngữ đời thường đầy hóm hỉnh vào bản dịch một cách nhuần nhuyễn, tạo nên một bản dịch hoàn toàn có thể có một đời sống độc lập bên cạnh bản dịch.

Nền dịch thuật Việt Nam thực sự bắt đầu phát triển từ sau năm 1945. Ngay sau Cách mạng tháng 8, hàng loạt bản dịch các tác phẩm tiên tiến của văn học thế giới được in thành sách. Bắt đầu các bản dịch trên báo chí những bài dịch lý thuyết văn chương, những tài liệu về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Trung Quốc, khối Đông Âu... rồi những bản dịch nổi tiếng nước ngoài với các tên tuổi hàng đầu lúc ấy như: Ngô Tất Tố, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Nguyễn Huy Tưởng, Phan Khôi, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Xuân Sanh...

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc, đất nước hòa bình thống nhất. Trong Nam ngoài Bắc, các nhà xuất bản đua nhau ra sách dịch. Đội ngũ những người dịch ngày thêm đông đảo. Những người dịch văn học, các tác phẩm từ tiếng Nga, các nước Đông Âu, Văn học CuBa, Mỹ Latinh... Và nhiều bài báo viết, cả báo hình cũng đã giới thiệu những dịch giả tài ba như Trương Chính, Phan Ngọc, Dương Tường, Nguyễn Trung Đức, Lê Khánh Trường... bước đầu xác nhận vai trò, hình ảnh của dịch giả trước công chúng - mà lâu nay chí làm đối với các nhà văn, thơ.

Theo Jacobsen (1958), dịch là một phát minh của người La Mã. Đây là một nhận định hoà toàn có căn cứ. Hai học giả được cho là có ảnh hưởng đáng kể đến nghiên cứu dịch thuật và các thế hệ dịch giả trong thời kỳ La Mã cổ đại là Cicero (106-43 trước công lịch) và Horace (65-? trước công lịch). Cả hai học giả này đều nghiên cứu dịch thuật trong một khung cảnh rộng lớn liên quan đến hai chức năng cơ bản trong thơ: nghĩa vụ chung của con người trong việc thu nhận và truyền bá trí tuệ và nghệ thuật. Chapman khẳng định rằng thông dịch viên phải:

1.    Tránh việc dịch theo từng từ một;

2.    Cố gắng thể hiện được “tinh thần” (spirit) của ngôn bản gốc;

(3)   Tránh các cách dịch quá lỏng lẻo, bằng cách dựa vào việc nghiên cứu học thuật phù hợp các bản dịch và những lời chú giải khác.

Đến khoảng cuối thế kỷ XVIII, vào năm 1791, Alexander Graser Tytler xuất bản một tập sách có nhan đề Các nguyên tắc của dịch thuật (The Principles of Translation). Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống đầu tiên về các quá trình dịch trong tiếng Anh. Ông đề xuất ba nguyên tắc cơ bản sau đây:

(1)   Bản dịch phải tạo ra một phiên bản nội dung của ngôn bản gốc;

(2)   Phong cách ngôn ngữ nói chung và phong cách viết nói riêng trong bản dịch phải có cùng đặc điểm với phong cách ngôn ngữ nói chung và phong cách viết nói riêng của ngôn bản gốc;

(3)   Bản dịch phải có tất cả những đặc điểm cấu tạo ở ngôn bản ngữ nguồn.

(Tytler 1791 dẫn theo Huntsman 1978)

Từ những thế kỷ trước sang thế kỷ XX, chúng ta bước sang một thế giới mới và đa dạng. Trong ngôn ngữ học, người ta thấy xuất hiện những tư tưởng cũng như những mô hình lý thuyết có ảnh hưởng sâu rộng trên toàn thế giới với những tên tuổi của các học giả nổi tiếng và quen thuộc trong giới ngôn ngữ học quốc tế như Ferdinand de Saussure, Firth, Sapir, Whorf, Bloomfield, Noam Chomsky, Jakobson, Hjelmslev, Halliday, Pike, Austin, Searle, Grice. Trong ngôn ngữ học tâm lý, ngừơi ta cũng thấy xuất hiện một số học giả nổi tiếng như Sperberg & Wilson (1986), Titone (1986).

Nếu nghiên cứu dịch thuật theo đồng đại thì người ta có thể thấy những vấn đề sau đây được các lý thuyết gia ở thế kỷ XX đặc biệt quan tâm: ngôn ngữ và văn hoá trong dịch thuật, dịch là một sản phẩm hay là một quá trình, dịch hình thức (cấu trúc) hay dịch nội dung (ý nghĩa), nhập mã và giải mã trong dịch thuật là gì, đơn vị dịch là gì, từ, câu hay ngôn bản, vấn đề tương đương trong dịch là gì, vấn đề thiệt và lợi trong dịch thuật, tính không thể dịch được là gì, dịch là một khoa học hay là một hoạt động bậc hai (nghệ thuật), v.v…

Trong bài viết được nhiều học giả về dịch thuật đánh giá cao có nhan đề Về các khía cạnh ngôn ngữ học của dịch (On Linguistic Aspects of Translation), Jakobson đã đặt dịch vào trong khung lý thuyết của tín hiệu học. Theo ông, bước đầu tiên để đi đến việc kiểm tra quátrình dịch là phải chấp nhận thực tế rằng mặc dù dịch về cơ bản là hoạt động ngôn ngữ học, nhưng phần chủ yếu của nó lại nằm trong lĩnh vực tín hiệu học (semiotics). Ông cho rằng ở mặt này thì tất cả các kinh nghiệm nhận thức và sự phân chia chúng đều có thể chuyển dịch được sang bất kỳ một ngôn ngữ hiện hành nào khác. Ông nhận định: “Ngôn ngữ khác nhau cơ bản về cái mà chúng phải chuyển tải chứ không phải về cái mà chúng có thể chuyển tải” (Jakobson Ibid.:58).

Lại càng phải phân biệt dịch thuật ở đây hoàn toàn khác với việc viết một bài bằng tiếng mẹ đẻ rồi chuyển dịch word for word sang ngôn ngữ đích, không màng đến những bất cập và sự bất lực trong công tác đầy cố gắng nhưng không hiệu quả này. Nói cách khác, hai cách dịch như trên là rào cản quá trình tư duy và tri nhận.

Năng lực ngôn ngữ (language competence) không đảm bảo được rằng người giỏi tiếng Anh là người dịch giỏi, nếu chưa có nhận thức về cấu trúc hay cách diễn đạt khác biệt giữa hai ngôn ngữ. Ở đây chúng tôi muốn phân biệt khái niệm dịch (translation) với hiện tượng ráp nối từ rồi chuyển sang ngôn ngữ đích với mục đích hiểu một bài đọc (ví dụ như sách giáo khoa). Nhiều người khi học đọc lại thường tìm cách dịch bài viết ra nhằm mục đích để hiểu từng từ, từng chi tiết nhưng lại không nắm được ý chính cũng như những điểm hay đẹp trong cách diễn đạt của văn bản gốc.                 phiendichvien.com